Ở nước ta, mỗi mảnh đất của Tổ quốc đều có những sản phẩm truyền thống, đặc trưng riêng. Ở Nam Đàn sản phẩm Tương được lưu truyền bao đời nay. Đó là món ăn truyền thống, một đặc sản, sản vật của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Nghệ An là vùng đất đầy nắng gió của dải đất miền Trung có rất nhiều đặc sản. Nếu về Thanh Chương mọi người bị "nghiền" bởi món nhút thì ở Nam Đàn, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nổi tiếng bởi món Tương. Dân gian từ bao đời nay vẫn lưu truyền câu "nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn" như tuyên bố rằng chỉ có ăn tương do mảnh đất Nam Đàn làm ra mới có vị ngon đặc biệt như thế.
chỉ có tương Nam Đàn mới có vị ngon đậm đà
Không phải là một thứ cao lương mỹ vị nhưng những đặc sản này đã rất quen thuộc với người dân xứ Nghệ cũng như những du khách từng ghé đến mảnh đất này. Nam Đàn có truyền thống làm tương từ bao đời nay bởi đó là món nước chan, nước chấm không thể thiếu trong bữa ăn thường nhật của người dân xứ Nghệ.
Để làm được một chum nước tương ngon người làm đòi hỏi phải thực hiện qua nhiều công đoạn công phu, tỷ mỉ và phải là người có nhiều kinh nghiệm mới làm được. Đầu tiên là chum - một vật dụng để đựng tương. Chum được nung chín đều, men láng bóng từ trong ra ngoài, ngâm trong nước nhiều ngày để đảm bảo độ kín đều, sau đó đem ra phơi ngoài nắng. Chum làm tương phải là loại chum cổ nhỏ, khi gõ vào tiếng kêu phải ngân nga như tiếng chuông đồng. Ngoài ta, làm tương cần phải có một tranh khuấy và nắp đậy. Việc chuẩn bị dụng cụ để làm tương phải được chuẩn bị chu đáo để có một chum tương ngon.
Các loại vật liệu dùng để làm tương cũng được chọn lựa rất kỹ lưỡng. Đậu để làm tương là loại đậu hạt nhỏ như hạt tiêu, vị bùi và béo. Hạt đậu phải được sàn lọc kỹ lưỡng, không có hạt quá lớn hoặc quá nhỏ, hạt tương phải đều, không có hạt lép,.... Người dân Nam Đàn thường dùng giống đậu trồng hai ven bãi phù sa, dòng sông Lam từ huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Anh Sơn, những nơi này có truyền thống chuyên trồng đậu làm nguyên liệu chế biến tương. Mốc tương được làm từ nếp, nếp phải lựa chọn loại nếp tốt như vậy mới cho vị đậm, ngọt, tương sánh hơn, quyện hơn. Muối làm tương phải là muối trắng, hạt to và phơi qua vài nắng trước khi đem vào làm. Nước làm tương được lấy từ nước giếng trong, nước giếng gần núi hoặc nước mưa.
quá trình ngạ tương của bà con
Tương dùng làm nước chấm kho cá, chấm rau muống, rau khoai, chấm đậu, ăn với cơm hàng ngày. Chỉ cần thêm một ít tỏi, gừng và mỳ chính vào nước tương thì chúng ta đã có một loại nước chấm không thể thay thế để ăn với thịt bê,...và nhiều món ăn khác.
Với vị ngon đậm đà, không lẫn so với các loại nước chấm khác nên tương Nam Đàn được nhiều người dân ở trong tỉnh và các tỉnh thành khác biết tới. Người dân Nam Đàn cũng lấy tương làm quà biếu, gọi là "đặc sản quê hương và rất tự hào về đặc sản đó.
Là sản phẩm truyền thống của huyện Nam Đàn, làng nghề Tương khối Phan Bội Châu ngày càng hoàn thiện về công nghệ, nâng cao số lượng và chất lượng.Ngày nay, đất nước đổi mới, cuộc sống của người dân càng nâng cao với nhiều đồ ăn, thức uống ngon và bổ dưỡng nhưng Tương Nam Đàn vẫn là món nước chan, nước chấm không thể thiếu trong bữa ăn thường nhật của người dân xứ Nghệ và một số tỉnh, thành khác.
An Phong


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét